Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Có 07 trường hợp giao dịch dân sự mà người dân cần lưu ý.
Giao dịch dân sự vô hiệu trong những trường hợp nào? Hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự tuyên vô hiệu ra sao, hãy cùng Công ty Luật Mặt Trời Phương Đông tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Giao dịch dân sự là gì?
Căn cứ Điều 116 BLDS 2015 quy định, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là gì?
Điều 117 BLDS năm 2015 quy định như sau:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Như vậy, khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, về chủ thể, mục đích và nội dung giao dịch cũng như về mặt hình thức. Thì giao dịch dân sự được coi là có hiệu lực.
Quy định về hình thức của giao dịch dân sự?
Điều 119, BLDS năm 2015 quy định như sau:
“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói. Bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký . . Thì phải tuân theo quy định đó.”
Như vậy, giao dịch dân sự có thể được thể hiện thông qua lời nói, văn bản hoặc hành vi. Trong một số trường hợp do luật quy định. Giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực.
Giao dịch dân sự vô hiệu trong những trường hợp nào??
Trường hợp 1: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Căn cứ Điều 123 BLDS 2015, quy định như sau:
“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội. Được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”
Trường hợp 2: Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Căn cứ Điều 124 BLDS 2015 quy định như sau:
“1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo. Nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác. Thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực. Trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Trường hợp 3: Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Căn cứ Điều 125 BLDS 2015 quy định như sau:
“1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó. Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự. Nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền. Hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên. Hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
Trường hợp 4: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
Căn cứ Điều 126 BLDS 2015 quy định như sau:
“1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch. Thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được. Hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.”
Trường hợp 5: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép
Căn cứ Điều 127 BLDS 2015 quy định như sau:
“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép. Thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba. Nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng. Hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba. Làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự. Nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”
Trường hợp 6: Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Căn cứ Điều 128 BLDS 2015 quy định như sau:
“Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Trường hợp 7: Giao dịch dân sự bị vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Căn cứ Điều 129 BLDS 2015 quy định về Giao dịch dân sự bị vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau: “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản. Nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch. Thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản. Nnhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch. Thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu?
Căn cứ Điều 131 BLDS 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu dẫn đến hậu quả pháp lý như sau:
Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
Thứ hai, giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu. Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nếu không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
Thứ ba, bên ngay tình thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
Thứ tư, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Thứ năm, việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân căn cứ vào Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan.
Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến dân sự. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây. Hoặc liên hệ với Công ty Luật Mặt Trời Phương Đông bằng một trong các cách thức sau để được tư vấn và hỗ trợ ngay.
XEM THÊM:
Hãy liên hệ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời:








