Trong bối cảnh gia đình hiện đại ngày càng đa dạng về hình thức, các mối quan hệ hôn nhân có yếu tố con riêng của vợ hoặc chồng đang trở nên phổ biến. Khi vợ hoặc chồng tái hôn, việc cha dượng, mẹ kế trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con riêng không chỉ là vấn đề đạo đức, tình cảm gia đình mà còn đặt ra nhiều vấn đề pháp lý quan trọng. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ (chồng) dưới góc độ pháp luật hôn nhân và gia đình và luật dân sự tại Việt Nam.
1. Khái niệm con riêng
Hiện nay, pháp luật hiện hành vẫn không quy định cụ thể về khái niệm con riêng, tuy nhiên có thể hiểu như sau:
Con riêng của vợ (chồng) là người con không có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp với người đang là chồng (hoặc vợ) của cha/mẹ ruột mình, mà được sinh ra trước thời điểm cha hoặc mẹ ruột kết hôn với người đó, hoặc được sinh ra trong một quan hệ hôn nhân, quan hệ nam nữ khác trước đó đã chấm dứt.
Nói cách khác, con riêng của vợ (chồng) là con của một bên trong quan hệ hôn nhân, không phải là con chung của vợ chồng, và không mặc nhiên phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người còn lại (cha dượng hoặc mẹ kế), trừ trường hợp có căn cứ pháp luật khác như việc nhận nuôi con nuôi hoặc có thỏa thuận, quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Con riêng có được hưởng di sản thừa kế của cha dượng, mẹ kế để lại hay không?
Căn cứ Điều 654 Bộ luật dân sự 2015, quy định về “Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế”, như sau:
“Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”.
Căn cứ Điều 652 Bộ luật dân sự 2015, quy định về “Thừa kế thế vị”:
“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.
Căn cứ Điều 653 Bộ luật dân sự 2015, quy định về “Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ”:
“Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này”.
Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, có thể thấy con riêng với cha dượng, mẹ kế vẫn được hưởng di sản thừa kế của nhau nếu chứng minh được có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con.
3. Xác định quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế
Vấn đề này được phúc đáp bởi Công văn 1083/VKSTC-V9 ngày 26/03/2024 về việc “Giải đáp thắc mắc trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình” như sau:
“Để xác định cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ (chồng) có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con hay không thì cần xem xét họ có thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con quy định tại các điều 69, 70, 71, 72 Luật Hôn nhân và Gia đình trên thực tế hay không.
Bố dượng, mẹ kế và con riêng có thể không sống chung nhưng họ có thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con quy định tại các điều 69, 70, 71, 72 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vẫn xác định họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con.
Ví dụ: mặc dù không sống chung nhưng họ có thăm nom, quan tâm, chi trả tiền để người khác nuôi dưỡng, chăm sóc người kia, chi trả tiền học tập, lo công việc, bảo đảm cho người kia có cuộc sống ổn định, đầy đủ…trong phạm vi khả năng, điều kiện của mình”.
4. Xác định hàng thừa kế của con riêng với cha dượng, mẹ kế trong thừa kế theo pháp luật
Căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự 2015, quy định về “Người thừa kế theo pháp luật” như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Khi chứng minh được quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế lúc này quan hệ thừa kế của họ được xác định như quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ. Như vậy, trong trường hợp này con riêng sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
———————————————————————————————————————————————————————————–
Hãy liên hệ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời:

